Tóm tắt:
Nội dung bài báo đề cập đến những yếu tố ảnh hưởng đến việc học tập và giảng dạy các môn kỹ năng của sinh viên trong các trường đại học. Tác giả khái quát chung về kỹ năng mềm, tìm hiểu và đánh giá những vấn đề thực tiễn liên quan đến hoạt động giảng dạy các môn kỹ năng mềm của các trường đại học trong giai đoạn hiện nay.

Từ khóa: Yếu tố ảnh hưởng, kỹ năng mềm, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng làm việc nhóm, hoạt động giảng dạy, hoạt động học tập, cơ sở vật chất, phương pháp giảng dạy, giảng viên, sinh viên.

1. Giới thiệu chung

Kỹ năng mềm là một thuật ngữ xã hội học chỉ những kỹ năng có liên quan đến việc sử dụng ngôn ngữ, khả năng hòa nhập xã hội, thái độ và hành vi ứng xử áp dụng vào việc giao tiếp giữa người với người. kỹ năng mềm là những kỹ năng có liên quan đến việc hòa mình vào, sống với hay tương tác với xã hội, cộng đồng, tập thể hoặc tổ chức.

Kỹ năng mềm chủ yếu là những kỹ năng thuộc về tính cách con người, không mang tính chuyên môn, không thể sờ nắm, không phải là kỹ năng cá tính đặc biệt, chúng quyết định khả năng bạn có thể trở thành nhà lãnh đạo, thính giả, nhà thương thuyết hay người hòa giải xung đột. Những kỹ năng “cứng” ở nghĩa trái ngược thường xuất hiện trên bản lý lịch – khả năng học vấn, kinh nghiệm và sự thành thạo về chuyên môn.

Phong cách sống, giao tiếp, lãnh đạo, làm việc theo nhóm, quản lý thời gian, thư giãn, vượt qua khủng hoảng, sáng tạo và đổi mới… đó là những “kỹ năng” thuộc về tính cách, không mang tính chuyên môn, nhưng lại là cực kỳ cần thiết cho con người trong mọi trường hợp, mọi hoàn cảnh, mọi lứa tuổi. Những “kỹ năng” đó giúp con người có thể học tập, làm việc, phát triển đơn lẻ hoặc cộng đồng, thậm chí sinh tồn khi gặp bất trắc.
Như vậy, “kỹ năng cứng” thì mỗi sinh viên theo học một chuyên môn nhất định là khác nhau, nhưng “kỹ năng mềm” thì ngành nghề nào cũng cần đến.

Trên cơ sở nghiên cứu các hệ thống kỹ năng mềm cần thiết cho người lao động của các nước phát triển trên thế giới (Mỹ, Australia, Canada, Anh, Singapore) và thực tế ở Việt Nam, TS. Phan Quốc Việt đã tổng hợp 10 kỹ năng mềm cần thiết cho người lao động cũng như sinh viên Việt Nam như sau:

1. Kỹ năng học và tự học (Learning to learn)
2. Kỹ năng lãnh đạo bản thân và hình ảnh cá nhân (Self leadership & Personal branding)
3. Kỹ năng tư duy sáng tạo và mạo hiểm (Initiative and enterprise skills)
4. Kỹ năng lập kế hoạch và tổ chức công việc (Planning and organising skills)
5. Kỹ năng lắng nghe (Listening skills)
6. Kỹ năng thuyết trình (Presentation skills)
7. Kỹ năng giao tiếp và ứng xử (Interpersonal skills)
8. Kỹ năng giải quyết vấn đề (Problem solving skills)
9. Kỹ năng làm việc đồng đội (Teamwork)
10. Kỹ năng đàm phán (Negotiation skills)

Kỹ năng mềm ngày được chứng minh có ảnh hưởng lớn đến sự thành bại trong sự nghiệp và cuộc sống của một cá nhân, tuy nhiên, tầm quan trọng của nó ít được giới sinh viên và phụ huynh nhắc đến. Bạn là một người đang có rất nhiều dự định và kế hoạch cho tương lai của chính bản thân mình và người thân, kỹ năng mềm có thực sự quan trọng đối với bạn? Bạn có chuyên môn giỏi, điều đó đã đủ để giúp bạn thành công? Bạn có biết chỉ 30% người có IQ cao đạt được thành công trong cuộc sống? Tại sao thanh niên Việt Nam học rất giỏi trên ghế nhà trường nhưng khi tốt nghiệp đi làm vẫn chưa đạt được thành công như mong muốn? Thực tế cho thấy người thành đạt chỉ có 15% là do những kiến thức chuyên môn, 85% còn lại được quyết định bởi những kỹ năng mềm họ được trang bị (theo Wikipedia). Những người sử dụng lao động coi trọng các kỹ năng “mềm”, bởi vì các nghiên cứu cho thấy chúng là một nhân tố đánh giá rất hiệu quả bên cạnh những kỹ năng công việc truyền thống hay còn gọi là kỹ năng “cứng”. Một cuộc nghiên cứu mới đây cho thấy những tiêu chuẩn để đánh giá con người như sự tận tâm, tính dễ chịu cũng là những nhân tố dự báo quan trọng đối với sự thành công trong nghề nghiệp giống như khả năng về nhận thức và kinh nghiệm làm việc (theo BWPortal). Leboc – Nhà văn, nhà tư tưởng người Anh – Thế kỷ XIX cho rằng: “Để thành công trong cuộc đời con người thì những kỹ năng trong giao tiếp còn quan trọng hơn cả tài năng của họ”. Điều đó có nghĩa là để thành công trong cuộc đời con người thì phải cần cả tài năng và các kỹ năng trong giao tiếp, nhưng giữa hai điều kiện đó thì những kỹ năng trong giao tiếp đóng vai trò quan trọng hơn. “Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, hiện 37% sinh viên tốt nghiệp không tìm được việc làm”. Bà Phạm Thị Mỹ Lệ, Giám đốc Công ty Tư vấn và Đào tạo Nhân lực L&A cho biết: “Chúng ta không thiếu việc làm mà đang thiếu sinh viên làm được việc”. Chương trình đào tạo không theo kịp sự phát triển của xã hội, không đào tạo ra người có thể làm được việc ngay. Do vậy, sinh viên mới ra trường thiếu quá nhiều kỹ năng để làm việc, đặc biệt các kỹ năng “mềm” như tư duy phân tích, tổng hợp, thuyết trình, giao tiếp hay làm việc đồng đội.

2. Những yếu tố ảnh hưởng

Hoạt động giảng dạy

Hoạt động giảng dạy kỹ năng mềm trong các nhà trường hiện đang hướng cho sinh viên tiếp cận với các môn học liên quan như: Kỹ năng thuyết trình, kỹ năng tạo lập văn bản tiếng việt, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giao tiếp…, Phương pháp giảng dạy các môn liên quan đến kỹ năng mềm tuy đã được các thầy, cô quan tâm đổi mới nhưng cũng chưa thực sự phong phú, tạo hứng thú cho sinh viên. Hầu hết các thầy, cô đã giảng dạy bằng máy chiếu projector, sử dụng bài giảng powerpoint. Việc đổi mới phương tiện giảng dạy này nếu không khai thác đúng cách và đổi mới phương pháp giảng dạy theo đúng nghĩa nhằm tăng tính tự học, chủ động của người học thì có thể ngay cả người thầy cũng bị rơi vào “trạng thái ỳ” với thao tác chiếu bài giảng lên và ngồi hoặc đứng tại chỗ đọc. Khi thực hiện giảng dạy các môn học kỹ năng mềm hiện nay thường gặp phải những khó khăn sau:

– Số lượng sinh viên trong lớp thường khá đông từ 50 đến 70 sinh viên trong một lớp, do vậy khó kiểm soát và giảng viên không thể nắm bắt được tính cách, sở trường cũng như ưu, nhược điểm của từng em để có thể định hướng và uốn nắn kịp thời nhằm điều chỉnh nhân cách cho các em trong khi học.

– Để có được “kỹ năng mềm” tốt cũng đòi hỏi sinh viên phải đạt được năng lực nhất định mới có thể vận dụng những hiểu biết của mình một cách mềm dẻo, linh hoạt, nhanh nhạy vào giải quyết các tình huống công việc cũng như giao tiếp một cách khôn khéo và thích ứng với môi trường tốt hơn.

– Phần lớn sinh viên không có thói quen đọc sách, cách học còn thụ động trông chờ thầy giảng. Thêm vào đó là thái độ cứng nhắc, không sẵn sàng tiếp thu để thay đổi, hiểu biết thực tế chưa nhiều nên hạn chế việc tiếp thu và áp dụng các kỹ năng mềm ngay cả khi cần thiết.

– Phần lớn sinh viên là con của các gia đình ngoại tỉnh, số sinh viên con của các gia đình trí thức, cán bộ được giáo dục nhân cách một các bài bản chiếm tỷ lệ rất ít. Chính vì vậy, điều kiện về kinh tế của các em hầu như là khó khăn, nên việc quan tâm và thể hiện kỹ năng mềm cũng bị hạn chế rất nhiều. Bởi vì, kỹ năng mềm được hình thành lâu dài từ nhỏ, còn nếu chỉ được đào tạo qua một số môn ở trường đại học thì rất khó có thể thay đổi được nhận thức của các em. Ví dụ: những khó khăn về kinh tế thường làm con người trở nên cáu bẳn và đối xử cục cằn, thô lỗ với nhau ngay cả những thành viên trong gia đình; Hoặc khi giảng dạy môn kỹ năng mềm tôi thường khuyên các em nên ăn mặc gọn gàng, sạch sẽ và lịch sự, đặc biệt là không nên đi tông đến lớp, nhưng đó là phong cách của các em đã hình thành từ trước mà nguyên nhân là điều kiện kinh tế không có hoặc môi trường giáo dục của gia đình không bài bản. Nếu khi ra trường mà các em vẫn giữ phong cách ấy thì không thể ăn điểm trong các cuộc phỏng vấn xin việc khi mà phải cạnh tranh với rất nhiều sinh viên của các trường đại học khác với tư duy hơn hẳn và phong cách của họ thanh lịch hơn,… hoặc chờ đến khi đi xin việc mới lúng túng thay đổi phong cách thì cũng rất khó có thể thích nghi kịp.

– Những buổi thảo luận, thuyết trình, đi quan sát thực tế có sự hướng dẫn của thầy cũng như những buổi giao lưu, nói chuyện, trao đổi kinh nghiệm với các doanh nhân và người lao động có kinh nghiệm chưa được thường xuyên. Đây cũng là một thực trạng của đa số các trường mà nó ảnh hưởng đến việc dạy và học các môn kỹ năng mềm.

Hoạt động học tập

Theo điều tra của tác giả thì hầu hết sinh viên được hỏi về cơ bản đều đã hiểu được “kỹ năng mềm” là gì và chỉ ra được một số tuy không đầy đủ các môn kỹ năng mềm, vì vậy, sinh viên đều rất kỳ vọng vào các môn học kỹ năng mềm và do đó những đòi hỏi từ người dạy cũng cần trang bị nhiều cả về kiến thức chuyên môn (lý luận và thực tế) cũng như phương pháp truyền đạt và phong cách giảng dạy. Sau khi học xong các môn học kỹ năng mềm, hầu hết sinh viên đều có những thay đổi tích cực hơn về thái độ, quan điểm sống, học tập và phong cách giao tiếp. Song, nhìn chung cũng chỉ một số ít sinh viên có thể đáp ứng được yêu cầu của thực tế, các sinh viên còn lại chỉ đáp ứng ở mức độ thấp hoặc không đáp ứng nổi.

Việc tiếp thu kiến thức của những môn học kỹ năng mềm không hề khó và thậm chí là dễ so với các môn chuyên ngành Kinh tế hay Kỹ thuật. Nhưng để ứng dụng những kiến thức đã được học vào thực tế, giải quyết các tình huống và công việc một cách tự tin, linh hoạt, khôn khéo… và nghệ thuật lại không hề dễ. Để có thể vận dụng tốt các kỹ năng mềm đã được trang bị đòi hỏi sinh viên phải biết “mềm hóa kiến thức” với một “tư duy động”, để vận dụng một cách mềm dẻo, linh hoạt, khôn khéo và tế nhị vào trong từng hoàn cảnh nhất định với từng đối tượng cụ thể, có khả năng làm việc độc lập nhưng vẫn thể hiện tinh thần làm việc và hợp tác với nhóm cao,…

Khi được hỏi về lý do các môn học làm cho sinh viên cảm thấy hứng thú học thì hầu hết đều có chung một câu trả lời là do môn học vui nhộn, có nhiều kiến thức và tình huống thực tế bổ ích và được làm việc với nhóm.

Tuy nhiên trong quá trình học tập, sinh viên vẫn bị chi phối bởi một tâm lý e ngại và thái độ đề phòng lẫn nhau đang cản trở sinh viên tự tin trong giao tiếp, học tập cũng như trong quá trình khẳng định bản thân. Hơn nữa sinh viên chưa biết cách thể hiện ra ngoài kỹ năng mềm để có thể sẵn sàng giao tiếp, hợp tác và chia sẻ với nhau. Trong suy nghĩ, sinh viên vẫn còn tâm lý e ngại, thậm chí là sợ, sợ sự dò xét, sợ người khác không sẵn lòng giao tiếp, sợ người khác phê bình, chê cười khi đặt câu hỏi hay phát biểu không đúng,… Trong một lớp chỉ có một vài sinh viên biết cách thể hiện mình trước đám đông, số còn lại thì chưa tự tin hoặc tự tin thái quá. Vì vậy, người thầy khi giảng dạy các môn học kỹ năng mềm cần phải có phương pháp giảng dạy phù hợp, động viên, khích lệ để sinh viên có thể ứng xử tự tin hơn với thực tế.

Về cơ sở vật chất

Thực trạng quản lý việc mua sắm, sử dụng cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện giảng dạy phục vụ hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên; trong lớp học và các phương tiện giảng dạy còn nhiều hạn chế, mặc dù không phải là các yếu tố mang tính quyết định đến hiệu quả của việc giảng dạy các môn học kỹ năng mềm nhưng cũng là một yếu tố có ảnh hưởng không nhỏ.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. James L. Gibson, Tổ chức-Hành vi-Cơ cấu-Quy trình, Bản dịch tiếng Việt do ThS. Phan Quốc Bảo chủ trì, NXB Tổng hợp TP. HCM.
2. Xây dựng nhóm làm việc hiệu quả, Bản dịch tiếng việt của Trần Thị Bích Nga, Phạm Ngọc Sáu và Nguyễn Thị Thu Hà, NXB Tổng hợp TP. HCM, 2006.
3. Michael Maginn, Thúc đẩy nhóm làm việc hiệu quả, Bản dịch của Trần Phi Tuấn, NXB Tổng hợp TP. HCM, 2007.
4. Ken Blanchard, Alan Randolph, Peter Grazier, Ê-kíp tiến lên nào, Bản dịch của Lê Tuyên, NXB Trẻ, 2005.
5. Tony Buzan, Sức mạnh của trí tuệ xã hội, NXB Tổng hợp TP. HCM, 2013.
6. Lãnh đạo nhóm, Bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Thu Hà, NXB Tri Thức, 2009.
7. Nguyễn Quốc Tuấn và Nguyễn Thị Loan, Phát triển kỹ năng quản trị, NXB Tài chính, 2009.
8. Lương Văn Úc, Giáo trình Tâm lý học lao động, NXB ĐHKTQD, 2011
9. Bùi Anh Tuấn & Phạm Thúy Hương, Giáo trình Hành vi tổ chức, NXB ĐH KTQD, 2011.
10. Hà Nam Khánh Giao, Phạm Thị Trúc Ly và Nguyễn Thị Quỳnh Giang, Giáo trình giao tiếp kinh doanh, NXB LĐXH, 2011.
11. Đoàn Thị Hồng Vân và Kim Ngọc Đạt, Giao tiếp trong kinh doanh và cuộc sống, NXB Tổng hợp TP. HCM, 2011.
12. Đoàn Trần Hạnh, Bài giảng Tâm lý quản lý, Học Viện CNBCVT 1.
13. Nguyễn Văn Phương, Bài giảng Kỹ năng làm việc nhóm, Học viện CNBCVT 2.
14. Nguyễn Văn Phương, Bài giảng kỹ năng thuyết trình, Học viện CNBCVT 2.

FACTORS INFLUENCE HOW STUDENTS IN VIETNAM’S UNIVERSITIES LEARN SOFT SKILLS

Tran Thanh Mai

Lecturer, Department of Skills Development

Posts and Telecommunications Institute of Technology

Abstract:

This paper is to present factors that influence how students in Vietnam’s universities learn skills. The author presents an overview about soft skills and evaluates practical issues related to the teaching and training activities of soft skills at Vietnam’s universities in the current period.

Keywords: Influencing factor, soft skill, presentation skill, teamwork skill, teaching and training activities, learning activities, infrastructure, teaching and training method, lecturer, student.

TRẦN THANH MAI (Giảng viên Bộ môn phát triển Kỹ năng – Học Viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông)

Loading...